16:14 Luật sư cho rằng cáo trạng quy kết ông Kiên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là không có căn cứ
Luật sư Ngô Huy Ngọc bào chữa cho ông Nguyễn Đức Kiên về 2 tội lừa đảo, trốn thuế.
Luật sư cho rằng, với bản cáo trạng của VKS, luật sư không nhất trí. Đối với tội lừa đảo, luật sư Ngọc thấy rằng đây không phải lừa đảo vì đây là giao dịch dân sự bình thường, chỉ chấm dứt theo biên bản thanh lý hợp đồng ngày 16/3/2013. Tức là sau ngày bị bắt rất lâu, hợp đồng vẫn đang tồn tại, các bên vẫn thực hiện quyền lợi trách nhiệm của mình. Pháp luật nào xen vào giao dịch dân sự của các DN với nhau khi họ vẫn đang thực hiện?
Cáo trạng quy kết ông Kiên tội chiếm đoạt lừa đảo không có căn cứ vì:
Trên cáo trạng, VKS quy kết nhóm ông Kiên lập khống biên bản HĐQT, căn cứ cho rằng bị lập khống là không có cuộc họp này mà lại có văn bản. Luật sư Ngọc đồng tình với các luật sư bào chữa trước về khái niệm văn bản khống theo từ điển Việt Nam.
"Nó có tương xứng với dấu hiệu mà người ta mô tả về “khống” hay không? Tôi thấy không phù hợp. Theo luật DN có quy định, hình thức tổ chức HĐQT có thể dưới nhiều hình thức, trong đó có hình thức thể hiện ý chí các thành viên bằng VĂN BẢN. Cuộc họp này là có thật. Tất cả các điều trong biên bản đều có thật".
Căn cứ văn bản này, ông Kiên thực hiện các nghĩa vụ của mình là hoàn toàn đúng pháp luật.
VKS đã trích dẫn trong hợp đồng một đoạn là về “thực hiện đảm bảo…” để quy kết tội cho ông Kiên.
Số cổ phần thép Hòa Phát thuộc quyền sở hữu của ACBI theo sổ cổ đông, giấy chứng nhận cổ phần, giấy chứng nhận tài sản đang phong tỏa của ACBS. Các bên liên quan đều thừa nhận thuộc quyền sở hữu của công ty này. Chỉ có một việc duy nhất là đang được thế chấp tại ACB để đảm bảo cho việc phát hành 800 tỷ trái phiếu.
Hợp đồng do Hòa Phát soạn thảo, thể hiện ý chí của Hòa Phát. Nếu là “thực hiện đảm bảo”, ông Kiên và ACBI không hề sai vì số cổ phần này không thực hiện bất cứ đảm bảo nào. Nếu là “đảm bảo thực hiện” thì ông Kiên sai. Do vậy việc trích dẫn vai trò để tạo lòng tin với Hòa Phát là hoàn toàn vô lý, không thể đưa vào bản tố tụng.
Thứ ba, cáo trạng cho rằng khi ký hợp đồng, ông Kiên chỉ đạo Thanh ký ủy nhiệm chi để sử dụng riêng. Không có khái niệm “sử dụng riêng”, đây là khái niệm mơ hồ, tạo cảm giác hành vi gian dối, điều này không đúng. Tại hồ sơ sử dụng số tiền, có 72,5 tỷ là ông Kiên vay. Luật sư đã hỏi số tiền này với tư cách là chủ tịch HĐQT ông có lạm quyền không? Phải căn cứ vào quy chế hoạt đông tài chính của công ty. NHững khoản vay này hoàn toàn phù hợp trình tự thủ tục kế toán. Việc hoàn lại cũng phù hợp.
Thứ tư, VKS cho rằng do tin tưởng ACBI nên 21/5/2012, ông Công đại diện MTV Thép Hòa Phát đã ký hợp đồng nhận chuyển nhượng và chuyển tiền. Nhiều người lầm tưởng ngay sau ký hợp đồng, tiền sẽ chuyển ngay cho ACBI. Không đúng. Sau 18 ngày, số tiền này mới được chuyển. Nó liên quan đến vấn đề ông Kiên và ông Long thỏa thuận với nhau về hoán đổi cổ phần, vì ông Kiên đã mua một số cổ phiếu từ Hòa Phát trước khi bên Hòa Phát chuyển tiền. Điều này không được ghi trong cáo trạng. Một giao dịch hoán đổi như vậy không có sự trái pháp luật nào.
Khi tạo lòng tin cho Hòa Phát, không phải tại ngày 21/5, các bên mới cần tạo lòng tin. Họ đã có các giao dịch dân sự và tình cảm với nhau từ lâu rồi.
Cuối cùng, cáo trạng cho rằng ông Kiên chiếm đoạt hoàn toàn 264 tỷ. Luật sư không thấy cáo trạng có khái niệm thế nào là chiếm đoạt. Từ 21/5, giao dịch là giữa DN với DN chứ không phải cá nhân với nhau. Chiếm đoạt là chuyển dịch bất hợp pháp tài sản của người khác thành của mình. Nhưng ở đây, quyền sở hữu 20 triệu cổ phiếu này và quyền sở hữu 264 tỷ đều ghi nhận màu sắc của 2 pháp nhân với nhau. 264 tỷ chuyển cho ACBI, dù có vấn đề thì cũng thuộc trách nhiệm của pháp nhân chứ đâu phải của cá nhân? Hoàn toàn trong quá trình đó ông Kiên không có giao dịch nào liên quan đến việc đút túi tiêu riêng. Cũng có việc ông Kiên vay tiền nhưng là giao dịch giữa ACBI và ông Kiên chứ không phải ông Kiên với Hòa Phát. Dù có xảy ra điều gì thì cũng là thuộc phạm vi điều chỉnh giữa ông Kiên với ACBI.
Giao dịch kinh tế chịu quan hệ điều chỉnh của luật Thương mại, luật Dân sự. Ngày 13/6/2012, hợp đồng này đang tồn tại trên thực tế, các bên không có khiếu nại tố cáo, căn cứ vào đâu để áp dụng luật hình sự, quy kết Kiên vào tội lừa đảo?
Luật sư trình bày về vấn đề đánh giá chứng cứ.
Thứ nhất, cáo trạng sử dụng hợp đồng dể quy kết. Đây là hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, nếu đương sự tự giải quyết được thì không cần cơ quan công an. Tại sao một hợp đồng bình thường lại thành tài liệu quan trọng để quy kết ông Kiên vào tội lừa đảo? Tôi cho rằng có sai lầm gì đó ngay từ khi khởi tố vụ án.
Tòa yêu cầu luật sư nghỉ giải lao, ông Kiên đề nghị được tự bào chữa về vấn đề này. Tòa bác bỏ, nói ông Kiên có thể bào chữa sau lời trình bày của LS.
15:46 Không xác định được người thiệt hại thì cáo buộc tội lừa đảo có chính xác?
Luật sư Phạm Gia Phong (VPLS Phạm Gia Phong) bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hải Yến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bắt đầu phần bào chữa, luật sư Phong đặt câu hỏi: Yến đã làm theo sự chỉ đạo nào của Kiên? Đó chỉ là công việc người lao động phải làm đối với người sở hữu lao động. Việc làm theo không phải là tiếp nhận ý chí, có sự bàn bạc mà chỉ là lập biên bản họp HĐQT theo mẫu, làm thủ tục giải chấp 20 triệu cổ phiếu đang thế chấp. Như vậy mà bị quy kết là đồng phạm?
Luật sư bày tỏ quan điểm:
Khi xác định vai trò đồng phạm, thì những người đồng phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người khác mà trước đó không có sự bàn bạc thống nhất, tiếp nhận ý chí, mục đích của nhau. Hải Yến không có hành động gian dối, chiếm đoạt mà chỉ làm theo, buộc phải làm theo chỉ thị của lãnh đạo với tư cách người làm công ăn lương.
Xét đây là vụ lừa đảo thì không thỏa đáng. Đây là một vụ giao dịch mua bán cổ phiếu, có thỏa thuận của các lãnh đạo chủ chốt, có hợp đồng ký kết giữa các bên… Trong thương vụ mua bán này không có dấu hiệu phạm tội vì 20 triệu cổ phiếu Thép Hòa Phát mà ACBS đang quản lý vẫn thuộc sở hữu của ACBI (chỉ chấm dứt khi tài sản bị tiêu hủy hoặc xác lập lại quyền sở hữu của chủ sở hữu…) và chỉ bị hạn chế quyền liên quan phát sinh.
VKS cho rằng biên bản HĐQT ACBI đã bị lập khống, theo khái niệm “khống” và các quy định tại Luật doanh nghiệp thì đây không phải biên bản khống. Giao dịch nói trên chỉ là giao dịch dân sự kinh tế mà ACBI ký với ACBS và MTV Thép Hòa Phát. Hành vi đó không cấu thành tội lừa đảo.
Đại diện của MTV Thép Hòa Phát khẳng định ký hợp đồng không phải do biên bản HĐQT. Ông Trần Tuấn Dương cũng khẳng định khi ký xác nhận không hề băn khoăn và không cần thiết phải xem biên bản HĐQT.
Luật sư đặt câu hỏi, vậy cáo buộc của VKS có chính xác không? Về mặt chủ quan là không có thủ đoạn, nên không thể là lừa đảo.
Ở đây ai là người thiệt hại? Không xác định được! Vì vậy, việc cáo buộc tội danh này là chưa đủ cơ sở. Đặc biệt, cáo buộc những người lao động – những người tuân theo người sử dụng lao động – là đồng phạm là không có cơ sở.
15:27 Luật sư cảm ơn Bầu Kiên vì đã xin giảm trách nhiệm cho ông Thanh
Luật sư Trần Đình Tuấn (VP Luật sư Trung Hòa Nhân Chính) bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc Thanh:
Thay mặt thân chủ, luật sư xin gửi lời cảm ơn với ông Nguyễn Đức Kiên. Tại tòa và trong các văn bản gửi cơ quan chức năng, ông Kiên đều xin giảm trách nhiệm cho ông Thanh.
(LS tóm tắt lại lời khai của ông Thanh về hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu HPG của ACBI và CTCP Thép Hòa Phát).
Như vậy, ông Thanh ký hợp đồng chuyển nhượng khi đã có công văn thay thế số cổ phiếu này bằng cổ phiếu Ngân hàng Eximbank - EIB, có văn bản và nghị quyết của HĐQT về việc chuyển nhượng. Việc ông Thanh ký ủy nhiệm chi 264 tỷ là do cô Yến đã đưa cho đủ chứng từ thủ tục của ông Kiên về thanh toán.
Theo điều tra thực tế, đến ngày 7/9, trước khi bị khởi tố và bắt giam 10 ngày, ông Thanh mới biết 264 mình đã ký là để chi cho các hoạt động trên nhưng Hòa Phát chưa nhận được cổ phiếu theo hợp đồng chuyển nhượng. Tôi nhận thấy CQĐT, VKS truy tố ông Thanh việc biết rõ cổ phần đang bị thế chấp nhưng vẫn làm theo ông Kiên nên phạm tội đồng phạm là không khách quan.
Thứ nhất, Trần Ngọc Thanh là giám đốc chi nhánh của công ty quản lý nợ ACB tại Hà Nội, làm giám đốc kiêm nhiệm ở ACBI. Những chữ ký của Thanh là nhiệm vụ của một giám đốc kiêm nhiệm với mức lương 5 triệu/tháng. Việc số cổ phần của ACBI chuyển nhượng cho Hòa Phát đã bị thế chấp ở ACB đã được Hòa Phát biết, thông qua việc phó giám đốc Mai Văn Hà ký xác nhận phong tỏa. Ông Thanh không biết được số cổ phiếu này khi rút ra sẽ được bán cho ai. Việc làm hoàn toàn do chỉ đạo của chủ tịch, mọi thủ tục quy trình đều theo đúng quy định của pháp luật.
Cáo trạng ghi Biên bản họp HĐQT của ACBI là biên bản khống là không chính xác. Biên bản này tuân thủ đúng quy định tại điều 103 Luật Doanh nghiệp.
Mặt khác, Trần Ngọc Thanh tin tưởng rằng sau khi gửi các văn bản đến ACB, ACBS, cùng hệ thống nên thủ tục sẽ đơn giản và với tầm ảnh hưởng của ông Kiên thì số cổ phiếu sẽ được giải tỏa. Trong việc đàm phán hợp đồng, rõ ràng không có sự giao tiếp bàn bạc thống nhất giữa 2 đại diện pháp luật là ông Thanh và ông Kiều Chí Công.
Việc ký hợp đồng 0105 cho người mua là Công ty TNHH MTV Thép Hòa phát, khi HĐQT đã chủ trương thì giám đốc Thanh phải ký hợp đồng. Mọi hồ sơ giấy tờ đều rõ ràng hợp lệ. Mọi thông tin đến người mua đều không do Thanh trao đổi.
Tóm lại, những việc này không xuất phát từ hành vi ý chí của Trần Ngọc Thanh. ACBI, ACBS, ACB, Thép Hòa Phát gắn bó như người một nhà và ông Thanh không nghi ngờ gì cả. Ông Thanh cũng không được hưởng lợi từ hành vi này. Thanh cũng tích cực khai báo thành khẩn, đúng bản chất hành vi của sự việc, không quanh co chối tội để làm sáng tỏ bản chất vụ án.
Luật sư Tuấn kể thêm những tình tiết giảm nhẹ: ông Thanh được tặng nhiều huy chương, bằng khen và danh hiệu cao quý của Nhà nước. Hiện ông Thanh đang có mẹ già ốm nằm liệt giường, gia đình khó khăn, phải đi thuê nhà, ở nhờ. Bản thân ông Thanh mắc bệnh hiểm nghèo như viêm khớp, thiểu năng tuần hoàn máu…
15:00 Luật sư của Trần Ngọc Thanh: Hình phạt VKS đưa ra với ông Thanh quá nặng
Chiều 27/05/2014, phiên tòa xét xử ông Nguyễn Đức Kiên chuyển sang phần tranh tụng.
Luật sư Nguyễn Thị Minh Thanh bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc Thanh trong tội lừa đảo:
Tôi cho rằng hình phạt VKS đưa ra quá nặng vì hành vi thì có nhưng là tội gì, tội danh như thế nào? Hành vi của ông Thanh chưa đủ cấu thành tội này và cũng không phải là đồng phạm của ông Kiên.
Là giám đốc ACBI, ông Thanh buộc phải ký văn bản nhưng không có động cơ, mục đích và không chiếm đoạt tiền, không được ăn chia, hưởng lợi từ 264 tỷ. Ông Thanh chỉ nhận được vỏn vẹn 5 triệu đồng/tháng. Cũng không được thỏa thuận với ông Kiên, chỉ đơn thuần là tuân lệnh lãnh đạo theo nhiệm vụ của người lao động.
Căn cứ lập luận của tôi như sau:
Thứ nhất, về vị trí vai trò của ông Thanh, chỉ là người lao động hưởng lương trong ACBI chịu sự điều hành trực tiếp của chủ tịch HĐQT là ông Nguyễn Đức Kiên. Vai trò giữa 2 người đơn thuần là người làm công ăn lương. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời khai của ông Thanh, chị Yến và xác nhận của ông Kiên.
Thứ hai, trách nhiệm của ông Thanh trong việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng cổ phần thép Hòa Phát cũng là làm theo chỉ đạo của chủ tịch chứ không được thỏa thuận thống nhất ý chí với thành viên HĐQT nào. Ông Thanh làm hoàn toàn không vụ lợi, không có mục đích chiếm đoạt. Biên bản hỏi cung đã thể hiện rất rõ. Bị can Yến cũng nói rõ ông Kiên là người chỉ đạo.
Chúng tôi cũng hỏi quy trình để ra được biên bản và nghị quyết HĐQT thì Thanh và Yến đã khai rất phù hợp với nhau. Rõ ràng, ông Thanh không tham gia họp bàn chủ trương vấn đề này. Ông Thanh chỉ ký do là người đại diện trước pháp luật. Chúng tôi cũng đã hỏi ông Kiên, ông Long và ông Dương, lời khai về ông Thanh phù hợp với nhau. Còn ông Công là người đại diện đi ký của ACBI.
Tôi tạm thời đánh giá hợp đồng 0105 này bình thường là hợp đồng dân sự nhưng ở đây 2 bên A và B đều không biết mặt nhau. Ông Thanh không biết ông Công là ai, và ngược lại. Đây chỉ là 2 đại diện theo pháp luật mà thôi, còn người đứng sau chủ trương là những người khác.
Tôi cho rằng hành vi đến đâu, bị cáo chịu đến đấy nhưng nó là cái gì thì HĐXX xem xét.
Ông Thanh chỉ ký hợp đồng cho hợp lệ sau khi ông Kiên đã ký nháy. Ông Thanh cũng không được báo cáo về tình trạng chưa được giải chấp của 20 triệu cổ phiếu trên.
Thứ ba, ông Thanh không có mục đích vụ lợi để chiếm đoạt số tiền 264 tỷ này. Toàn bộ việc định đoạt số tiền là do chủ trương của công ty và chỉ đạo của ông Kiên.
Vì vậy không đủ yếu tố cấu thành tội ông Trần Ngọc Thanh là chiếm đoạt tài sản, kết tội của VKS là chưa hợp lý. Việc quy ông Thanh là đồng phạm của ông Kiên càng không hợp lý.
Tôi đề nghị HĐXX, VKS cân nhắc đánh giá lại để ra phán quyết đúng người đúng tội.
14:33 Các mức án đề nghị cho 8 bị cáo
Theo đề xuất của VKS, ông Trần Xuân Giá đang tạm đình chỉ nên không xem xét. Các hình phạt với các bị cáo khác như sau:
Nguyễn Đức Kiên bị xử các tội Kinh doanh trái phép: 18-24 tháng tù; phạt tiền 25-30 triệu, tịch thu tiền kinh doanh trái phép. Trốn thuế: 4-5 năm tù giam: truy thu số tiền gần 25 tỷ đồng, tuyên phạt 2-3 lần số tiền trốn thuế; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: 16-18 năm tù giam; Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêmtrọng: 14-15 năm tù. Viện Kiểm sát đề nghị mức án chung cho các tội đối với Kiên là 30 năm tù giam.
Trần Ngọc Thanh: phạt 9 - 10 năm tù.
Nguyễn Thị Hải Yến: 7 – 8 năm
Lý Xuân Hải: 12 -14 năm tù. Cấm đảm nhiệm, điều hành các TCTD từ 3-5 năm sau khi ra tù.
Lê Vũ Kỳ: 7 – 8 năm tù.
Trịnh Kim Quang: 6- 7 năm tù.
Phạm Trung Cang, Huỳnh Quang Tuấn: 3 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm.
Theo đề xuất của VKS, ông Trần Xuân Giá đang tạm đình chỉ nên không xem xét. Các hình phạt với các bị cáo như sau:
Nguyễn Đức Kiên bị xử các tội Kinh doanh trái phép: 18-24 tháng tù; phạt tiền 25-30 triệu, tịch thu tiền kinh doanh trái phép. Trốn thuế: 4-5 năm tù giam: truy thu số tiền gần 25 tỷ đồng, tuyên phạt 2-3 lần số tiền trốn thuế; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: 16-18 năm tù giam; Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng: 14-15 năm tù. Viện Kiểm sát đề nghị mức án chung cho các tội đối với Kiên là 30 năm tù giam.